Văn chỉ Ninh Hòa tọa lạc tại thôn Phước Lý, xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

* Nguồn gốc di tích

Văn miếu/Văn chỉ/Văn từ là danh xưng có cùng một chức năng là nơi tôn thờ Nho giáo, tuy nhiên, chỉ khác nhau về cấp bậc ở chữ kèm theo sau là “miếu”, “chỉ”, “từ”. Theo đó, Văn miếu thuộc cấp trung ương, tỉnh, trấn; Văn từ, chỉ thuộc cấp tổng, huyện, làng, xã.

Nho giáo/đạo Nho/đạo Khổng là hệ thống đạo đức, triết học chính trị – xã hội, triết lý giáo dục do Khổng Tử khởi xướng và được các môn đồ của Ngài phát triển với mục đích xây dựng xã hội thịnh trị. Nho giáo hình thành ở Trung Hoa cổ đại, ảnh hưởng lớn đến các nước ở châu Á trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, thời nhà Nguyễn rất xem trọng việc xây dựng các thiết chế tín ngưỡng thờ phụng và tri ân những người có công với đất nước, dân tộc. Vì vậy, ngay từ khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng Văn miếu trên toàn quốc “Năm Gia Long năm thứ 2 (1803) có sắc chỉ của vua “Sai các dinh trấn đều lập Văn miếu, mỗi miếu đều đặt hai người điển hiệu, lễ sinh và miếu phu đều 30 người”[1]. Giống như nhiều Văn miếu trên cả nước, Văn chỉ Ninh Hòa cũng có những bước thăng trầm của lịch sử và tồn tại đến ngày nay.

Văn chỉ Ninh Hòa nơi thờ Đức Khổng Tử, người sáng lập Nho giáo và những bậc hiền triết là học trò của Ngài; đồng thời, cũng là nơi sinh hoạt của giới nho sĩ, khoa mục ở địa phương, tôn vinh những người đỗ đạt cao trong các kỳ khoa bảng của huyện Tân Định[2].

* Sự hình thành Văn chỉ Ninh Hòa

Sau khi vua Gia Long lên ngôi (1802) cho dời lỵ sở dinh Bình Khang về thành Diên Khánh và đổi tên dinh là trấn Bình Hòa “Năm Gia Long thứ 2 (1803) Vua có chỉ dụ cho xây dựng Văn miếu trấn Bình Hòa tại xã Phú Lộc, huyện Hoa Châu, thuộc trấn Bình Hoà”[3] (nay thuộc khóm Phú Lộc Tây, thị trấn Diên Khánh). Đây chính là tiền thân của di tích cấp quốc gia Văn miếu Diên Khánh tại thị trấn Diên Khánh ngày nay. Từ đó, Văn miếu Bình Khang ở Ninh Hòa trở thành Văn chỉ cấp huyện, nay là Văn chỉ Ninh Hòa.

Về niên đại, căn cứ vào tấm hoành phi “Ngưỡng di cao” treo ở tòa Nội điện với dòng lạc khoản “Tự Đức thập nhị niên ngũ nguyệt cát nhật tạo” [ngày tốt tháng 5 năm Tự Đức thứ 12 (1859) tạo dựng] là cứ liệu để đoán định năm xây dựng di tích.

Từ khi xây dựng đến nay, Văn chỉ Ninh Hòa đã trải qua những lần tôn tạo, tu bổ, cụ thể là vào các năm: 1884, 1997, 2001, 2002.

Mặt bằng tổng thể Văn chỉ Ninh Hòa

* Kiến trúc Văn chỉ Ninh Hòa:

Văn chỉ nằm trong khuôn viên có tổng diện tích 4.480m2. Từ ngoài vào trong, Văn chỉ Ninh Hòa có bố cục mặt bằng tổng thể như sau: Án phong, Tiền đường, Nội điện, nhà Đông.

Kiến trúc Văn chỉ sử dụng kết cấu phức hợp gỗ – đá – đất nung: Móng đá, tường gạch nung, khung sườn gỗ, mái lợp ngói âm dương. Về tổng thể kiến trúc, Văn chỉ là một tòa nhà với tòa Tiền đường ở trước, tòa Nội điện ở phía sau và nhà Đông dùng để tiếp khách ở bên trái của di tích. Về chi tiết kiến trúc, hệ thống chịu lực chính của Văn chỉ là 04 cột cái (đường kính 0,45m) và 12 cột quân (đường kính 0,39m). Vì kèo được liên kết với nhau bằng hệ ”chồng rường – giả thủ”, vì nóc kết cấu kiểu vì kèo. Nội điện có 04 mái, 02 mái trước, sau và 02 mái hồi, bờ nóc đắp trang trí “Lưỡng long chầu nhật”.

* Lễ hội và các hoạt động liên quan đến di tích

Hàng năm, Ban quản lý di tích đều tổ chức lễ Thánh đản (ngày sinh 27/8 Âm lịch) và Thánh húy (ngày mất 18/4 Âm lịch) của Đức Khổng Tử.

Theo thông lệ, sau nghi thức cúng truyền thống là đến phần trao kỷ niệm chương và chúc thọ cho những cụ trong Hội Tư khoa đạt tuổi 80 và 90. Tiếp sau đó, là lễ phát thưởng, trao học bổng “Khuyến học, khuyến tài” cho học sinh, sinh viên nghèo học giỏi của một số trường ở Ninh Hòa, nguồn kinh phí được Ban quản lý vận động từ các nhà hảo tâm, Hội khuyến học tỉnh Khánh Hòa và Hội khuyến học thị xã Ninh Hòa.

Ngày 06/11/2006, UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 1888/QĐ-UBND xếp hạng Văn chỉ Ninh Hòa là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.

Trần Thị Thanh Loan

[1] Đại Nam Thực Lục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn.
[2] Huyện Tân Định lúc bấy giờ có ít nhất 08 vị cử nhân Nho học là : Cụ Nguyễn Vĩnh Trinh-người khai khoa (xã An Thạnh), cụ Nguyễn Văn Nhuận (xã An Ấp/Phong Ấp), cụ Trần Văn Chất (xã Thanh Châu), cụ Phạm Đăng Xuân (xã An Phụng/Nghi Phụng), cụ Trần Thành (xã An Ấp), cụ Trần Văn Thông (xã An Tập), cụ Cao Đệ (xã Mỹ Thạnh), cụ Phạm Tấn (xã An Phụng).
[3] Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển 11) của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.