Đình Đảnh Thạnh tọa lạc trên một gò đất thôn Đảnh Thạnh, xã Diên Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (xưa thuộc Trường Lộc Trung xã, tổng Trung, huyện Phước Điền, phủ Diên Khánh), nằm cách thành phố Nha Trang khoảng 21km về phía tây.

Qua nghiên cứu các tư liệu lịch sử tại đình cho biết: Đình được khởi dựng trước năm Tự Đức năm thứ 5 (1852)[1], do các vị tiền nhân đến đây khai làng, lập ấp dựng lên để thờ Bản Cảnh Thành Hoàng, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thiên Y Thánh Mẫu, Tiền hiền, Hậu hiền…

Trải qua thời gian cộng với thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt, ngôi đình xuống cấp, nhân dân đã nhiều lần tu bổ, tôn tạo đình, lần gần đây nhất vào năm 1957, 1998.

Cũng gần giống như nhiều ngôi đình khác trong vùng (đình Mỹ lộc, đình Bình Khánh, đình Đại Hữu…), Đình Đảnh Thạnh gồm Án Phong phía trước, sau là sân gạch rộng và miếu Sơn Lâm, công trình chính là Tiền tế, Chính điện, hai bên tả, hữu là nhà Đông và miếu Tiền Hiền. Tất cả các hạng mục công trình trên nằm trong khuôn viên có diện tích 710m2, đình quay hướng đông nam.

Công trình thờ tự chính của đình được bố cục theo kiểu chữ Nhị (二) nhị gồm Tiền tế và Chính điện. Tiền tế là nơi tế các lễ vật lên các vị thần, được thiết kế ba gian bằng nhau, diện tích rộng 20,64m2. Nền được láng xi măng. Mái được lợp bằng ngói Tây, bờ nóc trang trí đắp nổi “Cá chép vượt vũ môn”, các bờ dải trang trí biểu tượng “Rồng vân mây cách điệu”. Sau Tiền tế là Chính điện, được ngăn cách bởi một bức tường trổ ba cửa, cánh làm bằng gỗ. Chính điện được thiết kế kiểu tứ trụ cổ lầu, trên bờ nóc trang trí đắp nổi “Lưỡng long chầu nguyệt”.

Kết cấu của công trình là bộ khung chịu lực hoàn toàn bằng gỗ, gồm: bốn trụ cột cái được ghép mộng với hai bộ vì kèo; trụ trốn lỏng đứng chân lên thanh quá giang thông qua một chiếc đấu vuông thót đáy trang trí hoa văn tinh tế nâng đỡ mái cổ lầu; hai thanh quá giang ăn mộng vào cột vươn ra phía ngoài tạo thành đầu dư chạm trổ hình đầu linh vật “chim phượng”.

Nội thất của Chính điện ở vị trí trung tâm là ban thờ Bản Cảnh Thành Hoàng, chính giữa ban là chữ “Thần” tượng trưng cho vị thần Thành Hoàng được thờ cúng, hai bên trang trí hình linh vật “rồng” cùng đôi câu đối ca ngợi công đức to lớn của vị thần; hai bên ban thờ thần là Tả ban và Hữu ban; hai bên hồi là ban thờ Đông phối và Tây phối

Đình Đảnh Thạnh còn lưu giữ được khá nhiều di vật, cổ vật có giá trị, các di vật ở đây khá phong phú về thể loại và chất liệu như: 11 một sắc phong các vua triều Nguyễn ban (sắc phong sớm nhất có niên đại Tự đức năm thứ 5 năm 1852, sắc phong muộn nhất niên hiệu Khải Định năm thứ 9 năm 1924), câu đối, tư liệu Hán Nôm, long đình, lọng, chiêng, trống, thanh la, nghi thức, nghi lễ cúng, văn tế, nhạc lễ, trang phục tế lễ… Đặc biệt, hàng năm vào ngày tốt tháng Ba Âm Lịch nhân dân lại tổ chức lễ cúng đình mang đậm bản sắc văn hóa của địa phương, ngoài phần lễ còn có phần diễn xướng dân gian (Hát Bội).

Một số sắc phong được bảo lưu tại đình Đảnh Thạnh 

Cùng với giá trị về văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, di tích còn mang nhiều giá trị về lịch sử cách mạng của địa phương. Trong hai cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đình là nơi hội họp của nhân dân, tổ chức huấn luyện lực lượng phòng vệ, nơi diễn ra các cuộc mít tinh của Mặt trận Việt Minh kêu gọi quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Đình cũng là nơi để nhân dân tiếp tế lương thực, thuốc men, là trạm dừng chân, nơi trung chuyển là cầu nối giữa các cơ sở hoạt động cách mạng ở đồng bằng và căn cứ địa cách mạng trung du, miền núi, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.

Trải qua gần hai thế kỷ tồn tại, ngôi đình vừa là công trình tín ngưỡng tâm linh vừa là nơi sinh hoạt văn hóa của người dân, có vai trò quan trọng trong việc liên kết cộng đồng, gìn giữ văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán truyền thống của địa phương. Di tích còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị đặc sắc về kiến trúc nghệ thuật, các di vật, hiện vật cổ chứa đựng giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sự kiện lịch sử tiêu biểu của địa phương. Với những giá trị tiêu biểu trên, di tích đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 2850/QĐ-UBND, ngày 18/11/2008 xếp hạng là di tích cấp tỉnh.

                                                                                                                                                           Nguyễn Chí Khải

[1] Sắc phong sớm nhất tại đình có niên đại Tự Đức năm thứ 5 (1852), đình phải xây dựng trước đó