Di tích Khảo cổ Hòa Diêm thuộc thôn Hòa Sơn, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, cách Trung tâm thành phố Cam Ranh khoảng 5 km về phía nam.

Di tích có toạ độ địa lý 11053’14.77” độ vĩ Bắc và 109006’35.14” độ kinh Đông, phân bố trên một cồn cát ven vịnh biển có độ cao khoảng 4m so với mặt nước biển. Khu vực phân bố di tích chủ yếu nằm tập trung ở xung quanh đình Hoà Diêm cũ (hiện nay đã bị bỏ hoang) và trên đất trồng hoa màu của người dân địa phương. Cũng bởi trên khu vực di chỉ còn tồn tại một ngôi đình cũ nên di chỉ còn được gọi với tên Hoà Diêm Đình hay Đình Hoà Diêm để phân biệt với các di chỉ được phát hiện ở thời gian sau này.

Di chỉ được phát hiện vào tháng 2/1998, do đoàn nghiên cứu của Viện Khảo cổ học đi khảo sát các di tích thuộc văn hóa Chămpa ở ba tỉnh Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, BìnhThuận). Trong đợt điền dã, đoàn đến thôn Hòa Diêm (nay là thôn Hòa Sơn), xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, đã phát hiện một số mảnh gốm, vết tích đầu tiên của địa điểm khảo cổ học. Những năm sau đó (1999, 2002, 2007, 2010, 2011), Bảo tàng tỉnh thường xuyên phối hợp với Bảo tàng Quốc Gia, Viện Khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Bảo tàng Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Waseda – Nhật Bản, tiến hành thám sát, khai quật, nghiên cứu di chỉ.

Tháng 4/1999, Bảo tàng tỉnh Khánh Hoà đã phối hợp với Viện Khảo cổ học đào 5 hố thám sát với tổng diện tích 50m2. Di chỉ thu được nhiều mộ vò, mộ đất, xương cốt còn khá nguyên vẹn, tư thế hài cốt chôn nằm ngửa. Di vật thu được một số mảnh bàn mài, 6 dọi xe chỉ làm từ xương cá, 7 vòng tay làm từ ốc tai tượng, 20 lõi vòng làm từ vỏ nhuyễn thể, 1 vòng gốm và gần 3000 mảnh gốm[1].

Tháng 3 – 4/2002, Bảo tàng tỉnh Khánh Hoà và Viện Khảo cổ học tiếp tục khảo sát và đào 3 hố thám sát với tổng diện tích 15m2. Đợt khai quật phát hiện 2 mộ, di vật thu được 16 tiêu bản đồ đá, gần 1.500 mảnh gốm, cùng các loại xương động vật và vỏ nhuyễn thể[2].

Tháng 7 – 8/2002, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Khánh Hoà đã tiến hành khai quật với diện tích 100m2. Tầng văn hoá dày trung bình 0,5m, đất màu xám đen. Đợt khai quật phát hiện 26 cụm di tích mộ táng, bếp và hố đất đen. Mộ táng có các loại hình mộ đất và mộ chum, chủ yếu là chum hình cầu với bốn dạng thức: mộ chôn lần đầu, mộ cải táng, mộ hoả táng, mộ chôn biểu tượng. Đồ tuỳ táng thu được nhiều loại chất liệu đá, gốm, đồng, sắt, xương, vỏ nhuyễn thể, đá quý… với các loại búa sắt, liềm sắt, dao sắt, rìu sắt, dùi sắt, đục sắt, giáo sắt, kiếm sắt, lục lạc đồng, hạt chuỗi đá nephrite, hạt chuỗi mã não, hạt chuỗi thuỷ tinh, hạt chuỗi bằng kim loại màu vàng, vòng tay bằng vỏ nhuyễn thể, nồi gốm, bình gốm, âu gốm, bát, bát bồng, bát chân cao, bát mâm bồng, chậu gốm… Hiện vật trong tầng văn hoá bao gồm 1 rìu tứ giác, 3 phác vật rìu, 14 chày nghiền, hòn nghiền, 41 bàn mài, 3 mũi nhọn xương, 2 công cụ bằng vỏ nhuyễn thể, 1 vòng tay và 4 lõi vòng bằng vỏ nhuyễn thể cùng 32.938 mảnh gốm, trong đó có 280 mảnh thuộc nhóm gốm Chăm sớm có niên đại khoảng thế kỷ II – III sau Công nguyên. Ngoài ra, đoàn khảo cổ còn thu được nhiều xương động vật và các loại vỏ nhuyễn thể[3].

Căn cứ vào cuộc khai quật và kết hợp với kết quả của các đợt điều tra thám sát trước đó, qua địa tầng di tích và di vật cho thấy Hoà Diêm là một di chỉ cư trú, đồng thời là khu mộ táng gồm nhiều loại hình mộ khác nhau mà mộ chum hình cầu là tiêu biểu nhất. Di chỉ cư trú phân bố trên một diện tích khá rộng, địa tầng của các hố đào đã thể hiện điều đó có khu vực còn giữ lại vỏ nhuyễn thể, có nơi không có nhuyễn thể.

Qua diễn biến của di vật, cho thấy tầng văn hoá chỉ có một lớp. Tuy nhiên, về di tích có mộ chôn cùng trong tầng văn hoá nên có cơ sở để khẳng định mộ trong di chỉ có niên đại muộn hơn. Trên bề mặt tầng văn hoá lác đác có mảnh gốm ở những giai đoạn muộn hơn tuy không tạo thành lớp văn hoá nh­ưng cũng cho thấy toàn bộ di tích đã tồn tại trong khoảng thời gian dài.

Về không gian môi tr­ường, Hoà Diêm là khu vực có nhiều yếu tố thuận lợi cho các lớp cư­ dân sinh sống, địa thế trước biển – sau núi, có nguồn n­ước ngọt từ sông, suối trên cao nguyên đổ xuống hình thành đồng bằng ven biển ở vùng vịnh Cam Ranh thuận lợi cho sự giao l­ưu trao đổi với các nền văn hoá khác qua       đ­ường thuỷ và đ­ường bộ.

Về di vật, cuộc khai quật đã thu đ­ược hàng vạn tiêu bản gồm các chất liệu khác nhau như:­ đồ đá, đồ gốm, x­ương, công cụ bằng vỏ nhuyễn thể, mộ chum, đồ trang sức… đã cho thấy Hoà Diêm ở giai đoạn này khá phồn thịnh. Các loại bình, nồi, bát bồng, âu… với nhiều kiểu dáng khác nhau, có trang trí hoa văn và không hoa văn, có những kiểu dáng tiếp thu và bảo l­ưu của giai đoạn trước có loại mang đặc điểm riêng biệt của Hoà Diêm. Mô típ trang trí là gọt (nạo) trên gờ vai các hình elíp đơn, đôi, ba, bên cạnh hoạ tiết in ấn bằng que nhiều răng đầu hình chữ nhật, vuông, tam giác, in mép sò với các bố cục khác nhau đã chứng tỏ sự sáng tạo của cư dân cổ Hoà Diêm thật phong phú.

Tư liệu khai quật cho thấy Hoà Diêm là một mắt xích, một cầu nối quan trọng trong việc nghiên cứu tình hình phát triển văn hoá khảo cổ ở Khánh Hòa nói riêng và Miền trung Việt Nam nói chung. Với đặc trưng của di tích Hoà Diêm qua các loại hình di tích, di chỉ, mộ táng, di vật,…. cho thấy quá trình phát triển của cư­ dân cổ Khánh Hoà thời Tiền – Sơ sử nhất là trong giai đoạn có sự giao thoa, hỗn dung, trao đổi mạnh mẽ của văn hoá của nhiều chủng tộc trong giai đoạn này. Thông qua di tích Hoà Diêm cho phép ta phần nào nhận biết được sự chuyển tiếp từ văn hoá Sa Huỳnh lên văn hoá Chăm Pa ở một địa phương, khu vực nhất định.

Sau đó, Bảo tàng tỉnh kết hợp với các đơn vị, cơ quan liên quan tiến hành thêm nhiều đợt khái quật khảo cổ khác nhau và thu được nhiều kết quả. Kết quả các đợt thám sát, khai quậtđã cho thấy địa tầng di tích, di vậtcho thấy, Hoà Diêm là một di tích khảo cổ học thuộc giai đoạn Tiền – Sơ sử ở Khánh Hoà tồn tại đến các thế kỷ đầu Công nguyên.

Kết quả khai quật một lần nữa khẳng định niên đại của di tích khoảng trên dưới 2.000 năm cách ngày nay với phát hiện hai đồng tiền Ngũ Thù (Hán) trong mộ M6, cho thấy khu mộ Hòa Diêm có niên đại sớm nhất là tương đương khoảng thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ II. Niên đại này tương đương với văn hóa Sa Huỳnh muộn.

Hòa Diêm có nhiều mối quan hệ, giao lưu văn hóa với nhiều khu vực văn hóa khác nhau, trong đó có nhiều yếu tố văn hóa có nguồn gốc từ phía Nam.

Từ các kết quả nghiên cứu khai quật trước đó cho biết Hòa Diêm là di chỉ cư trú – mộ táng có niên đại từ sớm đến muộn, nhưng sự phân bố của các vết tích cư trú không trải rộng mà nằm tập trung thành các khu vực nhất định trong di chỉ. Đa số thống nhất một khung niên đại 500 trước Công nguyên đến sau Công nguyên một vài trăm năm[4].

Di tích Hoà Diêm là di tích nằm trên cồn cát cao, cuộc sống phụ thuộc vào nguồn n­ước ngọt cuả con sông Tà L­ưa và các bàu nước xung quanh vịnh Cam Ranh. Vì ở sát biển nên thức ăn chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn biển như sò, ốc, hàu, cá… là “Văn hoá cồn sò điệp” tích tụ trong tầng văn hoá dày đặc vỏ nhuyễn thể biển; thêm nữa các vết tích xương, răng động vật từ Biển – Núi là thức ăn chính của c­ư dân ở đây.

Nét đặc tr­ưng của di tích Hoà Diêm là khu mộ táng sát ngay trong khu cư­ trú. Mộ táng nằm ngay trong tầng văn hoá. Đặc điểm ở đây mộ táng chỉ thấy loại hình cầu, ch­ưa thấy loại hình trụ, hình thức chôn có thể phân thành từng cụm; có cụm mộ chum đơn lẻ; có cụm hai chum úp nhau chôn thẳng đứng, có loại nắp chum là kiểu giống­ bát mâm bồng, trong chum hầu hết chôn xương cốt với các hình thức mai táng một hay nhiều tử thi trong một chum. Có nhiều loại hình mộ khác nhau, đặc biệt các đồ tuỳ táng chôn theo gần giống với cách sắp xếp trong mộ chum văn hóa Sa Huỳnh với các di vật nh­ư đồ gốm, đồ sắt, đồ trang sức bằng đá mã não, hạt chuỗi bằng đá quý, thuỷ tinh, kim loại màu vàng.

Hầu hết mộ chum chôn trong tư thế thẳng đứng, không có dấu hiệu của việc chôn thành từng cụm hoặc hiện tượng song táng nhưng có hiện tượng mộ cắt phá nhau. Điều đó cho thấy khu di tích Hòa Diêm có nhiều giai đoạn dù rằng diễn tiến các giai đoạn này cách nhau rất ngắn.

Loại hình chum được sử dụng để chôn cũng khá đa dạng – phổ biến là chum hình cầu miệng khum, đường kính miệng hẹp, không có nắp, được ghè mép tạo nên miệng rộng hơn có lẽ để dễ dàng đưa di cốt người vào trong lòng chum. Bên cạnh đó còn có các một hình loại hình chum khác – có thể lần đầu tiên các nhà khảo cổ học khai quật trong di tích có táng tục chum vò – đó là loại chum hình con tiện được trang trí hoa văn hình học rất phức tạp về cấu trúc, tinh tế với các đường nét và với một  trình độ mỹ thuật cao trên bề mặt được tô màu và miết láng những vùng không trang trí văn, chum có nắp, nắp có núm cầm và trang trí hoa văn vẽ màu nâu đỏ. Tất cả những yếu tố trên tạo cho chum có một cấu trúc hài hòa, độc đáo và duy nhất chỉ có trong các di tích khảo cổ học ở Việt Nam đó táng tục chum vò.

Về đồ gốm, có thể phân biệt được gốm di chỉ và gốm của mộ táng, thông qua các đặc điểm về loại hình, kích cỡ và hoa văn, ta có thể đoán định được chức năng của từng loại.

Qua nghiên cứu, đối chiếu, so sánh cho thấy: di tích và di vật ở Hòa Diêm không chỉ độc đáo mà còn thể hiện sự giao lưu văn hóa rộng rãi. Trước hết là đối với Việt Nam đó là sự tương đồng giữa chum táng nhóm 2 ở đây với những chum táng ở vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là với di chỉ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt. Ngoài ra gốm Hòa Diêm còn thể hiện những nét tương đồng với một số địa điểm ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, hiện tại chỉ có thể nói rằng, những nét tương đồng này mới chỉ là những dấu hiệu cho thấy có thể đã có một sự giao lưu đơn thuần giữa Hòa Diêm và các vùng khác chứ chưa thể nói lên sự giao lưu ấy diễn ra theo chiều nào, (nơi nào là nơi tạo ảnh hưởng, nơi nào là nơi chịu ảnh hưởng).

Di tích Khảo cổ Hòa Diêm, có niên đại nằm trong khoảng từ thế kỷ V – IV trước Công nguyên đến thế kỷ I – II sau Công nguyên. Theo các kết quả khai quật thì đây vừa là di chỉ cư trú, vừa là di chỉ mộ táng của cư dân tiền sơ sử. Di tích Hòa Diêm đặc biệt có giá trị về mặt khoa học, thẩm mỹ, chứa đựng những nét đặc trưng về khu cư trú của cư dân thời Tiền – Sơ sử, cũng như hình thức mộ táng của những cư dân sinh sống ở đây. Di tích còn thể hiện rõ không gian văn hóa Cồn Bàu rất đặc trưng của khu vực Nam Trung Bộ. Những hiện vật khai quật được ở di chỉ này như:  Vỏ nhuyễn thể, mộ chum, đồ gốm tùy táng, đồ sắt tùy táng, các hạt chuỗi thủy tinh, đá, lục lạc đồng, vòng đồng, bếp lửa, mảnh gốm, xương động vật, vỏ sò, công cụ lao động… đã phần nào hémở những thông tin về cuộc sống của cư dân cổ Hòa Diêm, cũng như nghi thức mai táng của họ.

Ngoài những đặc trưng, phong cách riêng thể hiện nổi bật một giai đoạn Hòa Diêm tiêu biểu, Di tích Hòa Diêm còn có những mối quan hệ rộng hơn, là sợi dây lịch sử liên kết với các di chỉ khác trong tỉnh, khu vực Nam Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Á.

Năm 2014, di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hang di tích quốc gia tại quyết định số 4108/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Đây là di tích khảo cổ đầu tiên và duy nhất hiện nay được xếp hạng di tích cấp quốc gia ở Khánh hòa. Vì vậy trong những năm tới di tích rất cần sự quan tâm của nhân dân, các ngành, các cấp, các nhà chuyên môn trong công tác bảo tồn, gìn giữ phát huy giá trị để phục vụ phát triền kinh tế du lịch ở địa phương. Điều đó sẽ góp phần biến nơi đây thành một điểm tham quan, nghiên cứu, học tập hấp dẫn về văn hóa Tiền – Sơ sử ở Khánh Hòa.

Nguyễn Chí Khải

[1] Nguyễn Công Bằng, 1999.

[2] Nguyễn Đăng Cường, 2005.

[3] Nguyễn Đăng Cường, 2005.

[4] Bùi Chí Hoàng, 2008, xem them Peter Bellwood 2007 và Robert Blust 2005 về niên đại đồ sắt.