Đền Trần Quý Cáp tọa lạc tại tổ 5, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Đền ở khu vực Gò Chết Chém (nằm bên trái Quốc lộ 1A – từ Bắc vào Nam), cách cầu Sông Cạn (nay là cầu Trần Quý Cáp) khoảng 50m về phía Nam, cách di tích Thành Diên Khánh 1km về phía Tây Bắc.
Trần Quý Cáp tự là Thích Phu, hiệu Thái Xuyên, sinh năm 1870 tại thôn Thai La, làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1906 ông được xung là Giáo thọ huyện Tân Định, phủ Ninh Hòa (nay là huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa). Ông là đại diện những nhà ái quốc cách mạng trong phong trào Duy Tân, cổ súy cho phong trào kháng chiến chống Pháp ở miền Trung. Ngày 15/6/1908, sau khi bị bắt hai tháng ông bị tuyên “trảm nêu” tại Cầu Sông Cạn (nay là cầu Trần Quý Cáp). Nhân dân Khánh Hòa thương tiếc ông, cảm phục tấm lòng trung nghĩa của ông đã hưởng ứng đấu tranh xây đền thờ Trần Quý Cáp vào năm 1970.
Trần Quý Cáp khi nhỏ là người thông minh, học giỏi, ham hiểu biết và là người có chí khí lớn. Trần Quý Cáp sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầy biến động. Ngay từ khi 13 tuổi ông đã chứng kiến đám tang của Tổng đốc Hoàng Diệu, khi thành Thăng Long thất thủ (1882); ba năm sau ông lại chứng kiến một biến động chính trị to lớn, đó là phong trào Cần Vương yêu nước do các văn thân ở quê ông lãnh đạo nhân dân đứng lên theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, kêu gọi mọi người đứng lên đánh Pháp.
Năm 1904 ông đi thi và đậu tiến sĩ cùng với Huỳnh Thúc Kháng, (hiện nay còn bia đề danh tiến sĩ tại triều đình Huế). Lúc này ở nước ta nền Hán học thoái trào, nền Tân học bắt đầu khởi xướng. Trần Quý Cáp thường xuyên qua lại với cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nghiên cứu những sách báo mới, nắm bắt những tư tưởng tiến bộ và ông tự xác định trách nhiệm của mình là đề cao tân học, thông qua cải cách giáo dục để nâng cao dân trí, ý thức dân quyền, tự lực tự cường dân tộc. Tại Quảng Nam, Phan Bội Châu đã cùng với các đồng chí của mình trong đó có Trần Quý Cáp sáng lập ra tổ chức “Duy Tân hội” – một tổ chức tiền cách mạng, nó đánh dấu sự phân hóa của tầng lớp trí thức tại Việt Nam. Duy Tân hội đã chọn lọc nhiều thanh niên ưu tú để đưa đi học ở Trung Quốc, Nhật Bản…học tập ở tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự… làm nòng cốt cho phong trào cách mạng nước nhà sau này.
Trần Quý Cáp cùng với một số trí thức trong vùng đã thành lập “Tân Hội học” và được nhân dân hưởng ứng đông đảo.
Năm 1906, ông cùng một số người thành lập hội nông học, hội thương, trường học…, ông còn làm thơ và các bài ca khuyến thương, khuyến nông, khai hoang vỡ hóa đất đai để sản xuất nông nghiệp theo phương thức mới, tiến bộ. “ Bài ca chiêu hồn nước” còn gọi là “khuyến học” (học để tự cường), kêu gọi mọi người học chữ Quốc ngữ để nâng cao dân trí.
Là người có tài thao lược, giỏi trong việc vận động nhân dân, được mọi người đánh giá cao về tài năng, đức độ. Vì vậy thực dân Pháp và bọn quan lại phong kiến biết được vai trò quan trọng của ông trong giới sĩ phu và quần chúng lao động. Ông đã mở các lớp Tân học, rước thầy dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp ngay trong trường Phủ.
Ông có nhiều đóng góp cho phong trào Duy Tân, luôn tuyên truyền và đề cao tân học, bài xích cử nghiệp, xóa bỏ những thủ tục lạc hậu lỗi thời, chính vì vậy bọn quan lại phong kiến đã lấy cớ chuyển ông về Tân Định (Ninh Hòa – Khánh Hòa ngày nay) làm Giáo thọ. Tại đây ông vẫn tiếp tục liên hệ với bạn bè ở quê và theo đuổi chí hướng của mình. Bọn quan lại ở đây rất căm tức và tìm mọi cách hãm hại ông, chúng thường xuyên cho tay chân mật thám theo dõi và kiểm soát thư từ, giấy tờ của ông một cách chặt chẽ. Nhân một lần nhận được thư nhà thông báo tình hình đấu tranh của nhân dân, ông ghi vào bức thư 7 chữ “ngô dân thử cử, khoái khoái khoái”. Thấy rõ đây là cơ hội lớn để sát hại người mà chúng căm ghét từ lâu, chúng bắt ông giữa lúc ông đang dạy học về giam tại nhà lao Thành Diên Khánh – lúc đó là thủ phủ của Khánh Hòa. Án của Trần Quý Cáp nhanh chóng được phê chuẩn: Mưu vãn tha quốc và truyền xử với tội hình “Trảm nêu”.
Đúng 9h sáng ngày 15/06/1908 (tức ngày 17/5 âm lịch) tại khu vực Gò Chết Chém, cách đền thờ hiện nay khoảng 50m, Trần Quý Cáp bị đưa ra xử tử. Trần Quý Cáp đã tỏ rõ thái độ dũng cảm hiên ngang trước cái chết không chút sợ hãi. Bị giặc giải đến nơi hành quyết, Trần Quý Cáp vẫn bình thản, giằng khăn bịt mặt, đòi đặt 01 án thờ đốt hương ngoảnh mặt về hướng Bắc, lạy tạ quê hương xong rồi lạy tạ quốc dân, chào những người đến tiễn biệt rồi khẳng khái giơ đầu cho chém, nét mặt không hề biến sắc mà vẫn điềm đạm, trang nghiêm như khi giảng sách, bình văn cho học trò.
Trước cái chết của Trần Quý Cáp, không những nhân dân rất thương cảm, phẫn uất mà ngay cả các quan lại công chức đương thời cũng thấy xót xa, khâm phục ý chí của người anh hùng.
Trần Quý Cáp mặc dù không phải là người sinh ra và lớn lên trên đất Khánh Hòa nhưng cuộc đời ông và sự nghiệp của ông gắn với mảnh đất này. Rõ ràng là: cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân không thuộc về riêng một ai, mà ông thuộc về Tổ quốc, về nhân dân Việt Nam anh hùng!
Bởi lẽ đó nhân dân Khánh Hòa thương xót ông, nhân dân Việt Nam thương khóc trước vong linh của ông. Một đời ông vì dân vì nước, hết lòng vì hoài bão lớn lao: canh tân đất nước để dân ta ngày càng tiến bộ về mọi mặt.
Tổ Quốc biết ơn ông, nhân dân nhớ thương ông. Ngày nay, tên tuổi ông được đặt tên cho các con đường, trường học … trên cả nước. Ở Khánh Hòa, đền thờ Trần Quý Cáp được xây dựng năm 1970 bên cầu sông Cạn cùng với Bình Tây đại tướng Trịnh Phong, Tham tán quân vụ Nguyễn Khanh, gọi là “Trung liệt điện”. Đền tọa lạc trên khu vực có tục danh “Gò Chết Chém” – nơi kẻ thù đã từng giết hại biết bao người con yêu nước và chiến sĩ Cần Vương. Vào thời điểm đó đất nước chưa thống nhất càng mang ý nghĩa thiết thực, đề cao tấm gương những người anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Việc xây dựng đền thờ cũng như việc bảo vệ, gìn giữ và phát huy tác dụng đối với di tích này vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm đồng thời cũng là đạo lý của người Việt Nam thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
Năm 2003, nhân dịp kỉ niệm 350 năm tỉnh
Khánh Hòa và để thuận tiện cho việc xây dựng lại cầu sông Cạn (nay là cầu Trần Quý Cáp) nên đền đã được di dời lui vào phía trong cách khu đền cũ khoảng 50m. Ngôi đền được xây mới với quy mô lớn hơn. Đền được xây dựng tương đối đơn giản, tuy nhiên vẫn theo lối kiến trúc truyền thống: cổ lầu 4 mái, trên các góc mái trang trí hoa văn đắp nổi. Đền quay hướng Đông, xung quanh đền được trồng các hàng cau xanh mướt và một số cây cảnh tạo nét đẹp cảnh quan tao nhã, bình dị. Bên cạnh đền là cây Lồng Mức cổ thụ, nơi ghi dấu tội ác của quân giặc – chính là nơi chúng đã xử tử biết bao chiến sĩ trong các phong trào cách mạng nước ta; phía trên trước mặt đền đắp nổi 3 chữ “TRUNG LIỆT ĐIỆN”.
Đền có diện tích 54m2, ngoài sân có cột cờ cao hơn 3m. Ban thờ và cửa đền được thiết kế hoàn toàn bằng gỗ nên trông bề thế và khang trang mang vẻ ấm cúng. Phía trên trong Chánh điện đắp 4 chữ Hán “Trung Nghị Cảm Nhân” – tức “tấm lòng trung nghĩa quả quyết đã cảm hóa được mọi người”. Bên ban thờ chính được khắc cặp liễn đối:
Vi thân hồ, vi gia hồ, vi thiên hạ hồ, thiện chí anh hùng do vị bạch
Thử thiên giả, thử địa giả, thử giang sơn giả, oan hàm tuyền ngưỡng (..) năng minh
Tạm dịch:
Vì thân ư, vì nhà ư, vì thiên hạ ư, chuộng chí anh hùng còn chưa tỏ
Trời này đấy, đất này ấy, giang sơn này đấy ngậm oan chín suối đã tường minh.
Trên khám thờ chính giữa đặt 01 linh vị thờ chí sĩ Trần Quý Cáp, đại tướng Trịnh Phong, tham tán quân vụ Nguyễn Khanh. Hai bên tường hồi treo một số khung ảnh về lăng mộ ở quê hương và văn thơ các bạn đồng lứa khóc thương cụ Trần khi nghe tin cụ bị xử tử.
Đền được xây dựng trong khuôn viên Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Sân vận động Trần Quý Cáp của huyện Diên Khánh, nhằm nâng cao giá trị di tích, tôn vinh truyền thống văn hóa, gắn kết các hoạt động văn hóa truyền thống với hoạt động văn hóa, thể thao; thông qua đó giáo dục truyền thống và tư tưởng nhân văn cao đẹp cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trong công cuộc hiện đại hóa đất nước hiện nay, vấn đề được quan tâm hàng đầu là truyền tải những truyền thống văn hóa, nhân vật lịch sử của quê hương tới được thế hệ thanh thiếu niên, ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc từ đó giúp thế hệ trẻ thêm yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam. Bản thân di tích chứa đựng trong mình những giá trị lịch sử tiêu biểu gắn liền với những sự kiện lịch sử của dân tộc.
Hàng năm cứ vào ngày 16/5 âm lịch tại đền diễn ra lễ tưởng niệm những người con đã ngã xuống vì dân tộc, quốc gia; tưởng niệm cụ Trần Quý Cáp và những người con ưu tú để tri ân những thế hệ đi trước đồng thời ôn lại truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”của dân tộc Việt.
Đền Trần Quý Cáp đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia tại quyết định số Số 1548 – QĐ, ngày 30/8/1991.

Nguyễn Thị Thúy Hằng